CẤU TRÚC NHÂN CÁCH THEO PHÂN TÂM HỌC

Trong năm học 2013-2014, các bộ môn sẽ đăng các bài viết học thuật về tâm lý học. Quý Thầy Cô và sinh viên có thể truy cập chuyên mục của các bộ môn để tham khảo và vui lòng trích dẫn nếu sử dụng thông tin.

CẤU TRÚC NHÂN CÁCH THEO PHÂN TÂM HỌC

Biên soạn : ThS. Lê Hoàng Thế Huy

Giảng viên Khoa Tâm lý học – ĐH KHXHNV Tp.HCM

 

Nhân cách không phải là một khái niệm quá mới mẻ không chỉ đối với những ai đã làm quen với các trường phái khác nhau của tâm lý học. Việc tìm ra và phân chia vài tỷ con người đang sống, mưu sinh trên trái đất này không ngừng ở việc làm đơn giản cái thế giới và nhân sinh quan của chúng ta đi, mà còn giúp làm cho khoa học nói chung và tâm lý học nói riêng, nhất là khía cạnh trị liệu, sáng rõ hơn về đường hướng nghiên cứu cũng như tiếp cận, can thiệp.

Phân tâm học, với bề dày lịch sử hơn 100 năm của mình, đã và đang là một trường phái học thuật (và cả lâm sàng) gây nhiều tò mò cho giới tâm lý cũng như những người ngoại đạo. Tại Việt Nam, phân tâm vẫn đang là một mảng quan trọng trong tâm lý học được quan tâm, tìm hiểu và bước đầu được nghiên cứu sao cho phù hợp với bối cảnh kinh tế-văn hóa-lịch sử-chính trị đặc trưng của nước ta. Tạm để sang một bên vấn đề gây tranh cãi từ lâu về việc áp dụng hiệu quả phân tâm tại Việt Nam, bài viết này được biên soạn với mục đích giới thiệu cho quý vị những quan niệm cơ bản nhất về nhân cách phân theo cấu trúc dựa trên nền tảng phân tâm học. Thế nào là cấu trúc nhân cách ? Nó có ý nghĩa như thế nào với con người nói chung và với một nhà lâm sàng nói riêng ? Làm thế nào để phân biệt các cấu trúc nhân cách, và phân biệt để làm gì ? …

  1. Nhân cách

Nhân cách (personality trong tiếng Anh, personnalité trong tiếng Pháp) có nguồn gốc từ persona, từ Latinh mang nghĩa “cái mặt nạ” (chữ nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp là prosopon). Persona được các diễn viên đeo trong những vở kịch trong thời kỳ Hy Lạp-La Mã cổ đại. Đó chính là một vật thể trung gian giữa người diễn viên, vai mà anh ta đóng và người xem kịch. Với số lượng hạn chế (khoảng 12 cái), khi khán giả nhìn thấy một persona được đeo, họ có thể tiên đoán trước những hành động tiếp theo của nhân vật. Một điều thú vị nữa là trong một vở kịch, một diễn viên cho một vai chỉ có thể mang một loại persona chứ không được thay đổi theo từng tình tiết cho dù vở kịch có kịch tính đến đâu.

Nguồn gốc này của từ vựng cho ta thấy những đặc điểm mà con người ta quy gán cho khái niệm được gọi là “nhân cách” : một là, cho dù thế giới con người có đa dạng như thế nào, luôn tồn tại một số thể loại nhân cách mang tính hoàn cầu, tất nhiên trừ những trường hợp thực sự cá biệt; hai là, cho dù cuộc sống con người có biến động đến đâu, nhân cách một khi đã hoàn chỉnh thì vẫn không thay đổi về bản chất. Điều này chẳng đi đôi với nhân sinh quan “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời” của phương Đông?

Phân tâm học, cùng với các trường phái khác trong tâm lý học và các ngành khoa học tự nhiên-xã hội khác, cũng không tách khái niệm “nhân cách” ra khỏi cách nhìn nhận này.

  

  1. Cấu trúc

Điểm đặc biệt cơ bản nhất của phân tâm học khi nó đưa ra những giả thiết về nhân cách so với các trường phái tâm lý và ngoại tâm lý khác chính là việc xem nhân cách không chỉ là một thể loại tính cách con người trong đó cộng gộp lại một số những đặc điểm riêng biệt, mà còn là việc đưa khái niệm nhân cách vào trong khía cạnh cấu trúc. Câu hỏi được đặt ra ngay lúc này khó có thể khác hơn : thế nào là cấu trúc?  Nhân cách và cấu trúc liên hệ với nhau như thế nào ? …

Dựa trên nền tảng chủ nghĩa cấu trúc và xây dựng (structuralisme và constructivisme) do Claude Lévi-Strauss khởi xướng giữa thế kỷ XX và những tiền đề triết học trước đó, định nghĩa cấu trúc trong phân tâm học có thể được miêu tả vắn tắt bằng những yếu tố sau :

-          Các chi tiết, yếu tố đơn lẻ hợp thành

-          Một trật tự sắp xếp giữa những yếu tố đó, cùng với các nguyên lý, quy tắc tổ chức giữa chúng

-          Một lịch sử, quá trình xây dựng, hình thành nên những yếu tố và nguyên lý đó

Theo đó, ngôn ngữ là một cấu trúc, với các yếu tố đơn lẻ chính là tập hợp những từ vựng mà ta dễ dàng tìm thấy trong các cuốn từ điển, một trật tự và quy tắc quy định bởi hệ thống ngữ pháp và cú pháp. Ngoài ra, bất kỳ một thứ tiếng nào cũng trải qua những biến đổi trong quá trình biến động trải qua năm tháng.

Vô thức cũng là một loại cấu trúc, hợp thành bởi những hình tượng được lưu lại sau những trải nghiệm (những dấu vết hình ảnh, âm thanh, bối cảnh …), được sắp xếp theo một logic phi lý tính nhưng rất chủ quan (luật vào/ra, chủ động/bị động …), theo một trật tự thời gian tiềm tàng đặc biệt, và được xây dựng từ thuở ấu thơ từ những mối quan hệ trong gia đình. Có cùng những cơ chế hoạt động như một thứ ngôn ngữ (ẩn dụ, hoán dụ …) với những cách thức rất riêng của mình (chuyển vị, cô đọng …), Jacques Lacan (1965) mạnh dạn đưa ra một phát biểu nổi tiếng : “Vô thức được cấu trúc như một thứ ngôn ngữ”.

DSM-IV (và có thể là sau đó) liệu có phải là một cấu trúc, khi hiếm có những sự tương quan mang tính nền tảng giữa các triệu chứng, dấu hiệu được liệt kê trong mỗi mã bệnh, và khi nó được xây dựng không theo một nền tảng lý thuyết nào ngoài những hiệu ứng mang tính thống kê ? Đó có thể là một quyển catalogue xuất sắc, tổng hợp một cách gần như hoàn thiện những dấu hiệu thấy được của các tình trạng (cận) bệnh lý, nhưng nó chỉ có thể dừng lại ở mức độ miêu tả chứ không giúp ta thấy được mối tương quan, liền lạc trong một hệ thống của các dấu hiệu lẻ tẻ đó (Szasz, 1987).

 

  1. Sơ lược về các cấu trúc nhân cách theo phân tâm học

 Jean Bergeret, bác sĩ tâm thần và phân tâm gia người Pháp thề kỷ XX, khi đề cập đến cấu trúc nhân cách theo học phái Phân tâm, có đề nghị một cách tóm lược những yếu tố cần phải lưu tâm như sau (1974):

-          Thứ nhất: Bản chất của các lo hãi tiềm ẩn

-          Thứ hai: Kiểu quan hệ đối tượng

-          Thứ ba: Các cơ chế phòng vệ chủ đạo

-          Thứ tư: Các dạng triệu chứng thường gặp

Đối với 4 yếu tố nêu trên, mỗi dạng cấu trúc nhân cách đều có những đặc trưng riêng biệt khiến việc chẩn đoán và định hướng làm việc trở nên ít phức tạp hơn. Các đặc điểm của từng cấu trúc theo kiểu phân loại theo yếu tố của Bergeret sẽ được đề cập chi tiết trong bảng đính kèm.

Phân tâm học cổ điển chia ra 3 cấu trúc nhân cách lớn như sau:

-          Cấu trúc nhiễu tâm : gồm 4 loại : ám ảnh, hysteri, ám sợ và lo hãi

-          Cấu trúc loạn tâm : gồm các loại : hưng cảm và sầu uất (maniaco-dépressive), hoang tưởng (paranoiaque) và phân liệt (schizoide/paranoide)

-          Tranh cãi lớn về tính duy nhất của cấu trúc “thứ 3”: lệch lạc (perversions) và các nhân cách ranh giới (états-limites). Các lệch lạc rất đa dạng (thị dâm, phô trương, bái vật, bạo/khổ dâm …), bên cạnh các nhân cách ranh giới phi cấu trúc hay mang tính ái kỷ.

-          Ngoài ra, các học giả phân tâm còn nhiều tranh cãi lớn xung quanh cấu trúc “thứ 4”: tự kỷ. Liệu tự kỷ là một cấu trúc độc lập, hay là một biểu hiện đặc biệt của nhóm loạn tâm vẫn còn là một đề tài tranh luận triết học sôi nổi.

  1. Hai bộ ba (topique) của Freud

Sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng nếu đề cập đến các cấu trúc nhân cách mà không nhắc lại hai bộ ba mà Freud đã xây dựng để hệ thống hóa bộ máy tâm trí con người, dù đó không phải là một chủ đề quá lạ lẫm với đa số quý vị. Cần nhấn mạnh là cho dù một con người được cấu trúc như thế nào, các yếu tố trong hai bộ ba này đều tồn tại và tham gia vào đời sống nội tâm của con người và cả những mối quan hệ xã hội của người đó. Điều khác nhau của các cấu trúc chính là tính năng động, sự tương tác và “liều lượng” mà mỗi yếu tố được khai triển và kiềm tỏa. Ta sẽ phân tích vấn đề này sâu xa hơn.

Bộ ba thứ nhất của Freud được ông khái niệm hóa vào năm 1900. Trong bộ ba này, Freud phân biệt 3 thành tố chính yếu trong tâm trí bao gồm : ý thức, tiềm thức và vô thức. Cùng với giả thiết về sự tồn tại của vô thức và về sự ảnh hưởng dữ dội, khó cưỡng lại của vô thức lên các hành vi, ngôn ngữ con người. Cũng chính sự ra đời giả thiết này đã làm khai sinh ra một trường phái triết học-tâm lý mới mang tên phân tâm học.

Tuy nhiên, việc duy trì cách tiếp cận bộ máy tâm trí bằng bộ ba trên đôi khi làm Freud gặp khó khăn trong việc lý giải một số hiện tượng tâm trí (vd sự lặp đi lặp lại mang tính cưỡng chế của một số hành vi mặc cho sự nhận thức của thân chủ) cũng như trong tiến trình trị liệu phân tâm cổ điển, vào năm 1923, Freud cho phát hành cuốn “Cái Tôi và cái Ấy”. Trong quyển sách này, Freud đề nghị một bộ ba mới nhằm tiếp cận đầy đủ hơn guồng máy tâm trí con người, biết rằng bộ ba mới này không xóa bỏ hay mâu thuẫn với bộ ba cũ mà ngược lại, bổ sung cho nhau. Hai bộ ba của Freud vẫn còn giữ nguyên giá trị học thuật và trị liệu cho đến ngày nay, làm nền tảng cho phần lớn các trường phái tâm lý hay tân phân tâm sau này, dù các trường phái ấy có lên tiếng chống lại hay vay mượn một phần các giả thiết trên của Freud. Ta có thể biểu diễn sự chồng chập phối hợp của hai bộ ba đó theo một hình ảnh quen thuộc của một tảng băng trôi :

 

                                              

 Dựa trên mô hình trên, ta có thể vắn tắt mối quan hệ giữa các thành tố kia trong mỗi cấu trúc nhân cách như sau :

-          Nhiễu tâm : cái Tôi bị kẹp giữa cái Siêu tôi/cái Thực tế (bên ngoài) đè nặng bên trên và cái Ấy bị vùi nén ở tận cùng

à một trong những đường hướng trị liệu chính là khơi gợi cái Ấy ra khỏi sự dồn nén ngạt thở ấy

-          Loạn tâm : cái Thực tế (bên ngoài) bị vùi nén ở tận cùng bởi cái Tôi và trên đó nữa là cái Ấy

è đường hướng trị liệu mô phỏng là hỗ trợ sao cho cái thực tế kia được tiếp cận mà không gây lo hãi quá khích và hạn chế khéo léo sự ngự trị của cái Ấy

-          Ở một con người bình thường-nhiễu tâm: có một chút nhiễu tâm và một chút loạn tâm nhưng phần nhiễu tâm nổi trội hơn. Người bình thường- nhiễu tâm cần được phân biệt với người bị nhiễu tâm ở chỗ: thứ nhất, ở người bình thường-nhiễu tâm không có những triệu chứng chức năng gây phiền hà đến cuộc sống của chính bản thân người ấy; thứ hai, tâm trì người bình thường-nhiễu tâm có sự linh hoạt trong việc sử dụng các cơ chế phòng vệ cũng như trong cách thức đối mặt, giải quyết các lo hãi, trong khi người bị nhiễu tâm thường cứng nhắc, bị đóng khung trong những cách thức đối mặt không hiệu quả và sử dụng những cơ chế phòng vệ nhiễu tâm một cách quá mức đến độ gây nên sự đau khổ chủ quan.

Các cấu trúc nhân cách được định hình từ thuở ấu thơ, trong mối quan hệ trong gia đình (mở rộng). Mấu chốt của việc xây dựng cấu trúc nhân cách theo Freud chính là thời kỳ Oedipe. Trong thời kỳ của mối quan hệ tam giác này, việc đối diện và giải quyết mặc cảm và nỗi lo hãi bị thiến (complexe và angoisse de firtration) là tiên quyết cho một cấu trúc nhiễu tâm. Trọng tâm của cấu trúc loạn tâm không đạt đến điểm này mà loay hoay trong thời kỳ cổ xưa tiền Oedipe. Vấn đề của cấu trúc lệch lạc lại nằm ở ngưỡng cửa bước vào Oedipe : không thừa nhận việc người mẹ không có bộ phân sinh dục nam (qua đó, một cách vô thức, gặp khó khăn trong sự phân biệt giới tính) và khỏa lấp nỗi lo hãi đó bằng những cách thức riêng biệt. Nhân cách ranh giới đối diện với sự mất mát, trống vắng tiền Oedipe và phải dựa vào những mối quan hệ tích cực theo hướng nâng đỡ để có thể tiếp tục bước đi trong cuộc sống.

Sau đây là bảng tóm tắt ngắn gọn các đặc điểm chính của các cấu trúc trên:

Cấu trúc nhân cách

Thời kỳ chủ đạo

Lo hãi chủ đạo

Cơ chế phòng vệ chủ đạo

Nhiễu tâm

Oedipe

Bị thiến

Dồn nén (refoulement), phủ nhận (dénégation)

Loạn tâm

Tiền Oedipe

Bị ăn thịt, bị tan rã, bị mất trọng lực, bị tan vào nước,

Phóng chiếu (projection), chối bỏ (déni)

Lệch lạc

Ngưỡng trước Oedipe

(rằng người mẹ mất cái biểu tượng quyền năng)

Chối bỏ (déni)

Ranh giới

Tiền Oedipe

Bị mất mát

[Quan hệ nương tựa] (relation d’étayage)

 

  1. Đóng góp của Jacques Lacan vào các câu trúc nhân cách

Jacques Lacan (1901-1981) là một bác sĩ tâm thần – nhà phân tâm học người Pháp, người đã cải cách các học thuyết phân tâm của Freud theo định hướng triết học Hégel (theo cách diễn giải của Alexander Kozhevnikov) và vận dụng những nghiên cứu từ ngôn ngữ học để làm sáng tỏ thêm hai bộ ba của Freud, đưa ra thêm một cấu trúc khác nhằm miêu tả bộ máy tâm trí con người trong những khía cạnh mà hai bộ ba kia vẫn chưa hình tượng hóa được.

Dựa trên hình ảnh vòng nơ của dòng họ Borromée (Ý), Lacan đề nghị một cách tiếp cận mới về tâm trí, nhất là vô thức, theo cách sau :

                                   

 

Trong đó :

-          Cái Thực (Réel): những thứ hiện hữu về mặt vật chất, bên ngoài; bản chất của nó không bao giờ ta có thể hiểu được, nắm bắt được hay giải thích được; đó là những thứ không thể thiếu và cũng không thể tránh được. Cái Thực khác với Thực tế nội tâm (Réalité psychique) mang tính chủ quan và là cách mà ta tiếp cận với cái Thực đó.

Vd : thân thể, cái chết, một vết thương, một thiên tai ….

-          Cái Ảo (hay Tưởng – Imaginaire) : bao gồm những hình ảnh, những sự đồng nhất hóa, cơ thể … Đó là cách mà ta hiện diện trước và trong mắt người khác. Nói cách khác, khi ta tiếp xúc với người khác, ta đang hoạt động trong khái cạnh Ảo (Tưởng).

-          Cái Biểu tượng (Symbolique) : giúp sắp xếp, tổ chức. Ngôn ngữ là một trong số đó. Chính tính biểu tượng hệ thống lại thế giới này cho chúng ta. Nền tảng của tính biểu tượng là ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ không phải là yếu tố duy nhất trong tính biểu tượng.

Các chỗ giao của 3 vòng xuyến này cũng là đại diện cho những yếu tố sau :

-          Nơi Ảo giao Biểu tượng gọi là ý nghĩa (sens), hay là một sự sắp xếp các hình tượng tưởng tượng theo một trật tự nhất định sao cho nó mang một ý nghĩa. Sự rối loạn của các hình tượng (do Biểu tượng không giúp sắp xếp các yếu tố trong phần Ảo) là một trong những nguyên căn của các dấu hiệu bệnh lý. Cái ý nghĩa tiếp xúc trực tiếp với cái Thực : đó là cách mà con người tiếp cận đến cái Thực khó hiểu, ngoài tầm với. Vd : các tôn giáo cho cái chết một ý nghĩa nào đó. Các ngành khoa học chính xác hay lĩnh vực y khoa đào sâu nghiên cứu, đưa ra những giả thiết để tìm hiểu thế giới tự nhiên, vũ trụ, thân thể. Khi cái Thực di chuyển tự do, vòng Ảo và Biểu tượng đứt rời nhau, cái ý nghĩa bị biến mất. Đó chính là khi ta gặp một sang chấn tâm lý. Mô hình này của Lacan cho ta thấy rõ triết lý trị liệu : thiết lập lại cùng với thân chủ ý nghĩa của sang chấn đó chứ không để họ đối mặt với sự vô nghĩa, trống rỗng. Ý nghĩa đó, cho dù nó hợp lý hay không về mặt khoa học, nhưng nó rất đáng quý trong trị liệu, nhất là khi nó được lồng ghép với một ý nghĩa mang tính cộng đồng.

-          Nơi Thực giao với Biểu tượng được gọi là Khoái lạc phallic (jouissance phallique - Jp): một khoái lạc có chừng mực, được sắp xếp và giới hạn bởi những lề luật. Nó tiếp xúc với vòng Ảo, làm rào cản cho vòng Ảo di chuyển tự do. Nói cách khác, nó khiến cho các huyễn tưởng, tưởng tượng chỉ dừng lại ở mức đó chứ không thể hiện ra bên ngoài dưới dạng hành động. Khi trục Ảo bị đứt ra khỏi bộ ba, di chuyển lên xuống tự do, trục Biểu tượng và Thực tách rời nhau, Khoái lạc phallic bị xóa sổ. Khi ấy, ta đề cập đến những rối loạn hoang tưởng, loạn tâm. Trong loạn tâm, sự Khoái lạc bị thiến này không được đạt đến. Các xung năng trong cơ thể bộc lộ ra bên ngoài mà không có sự kiểm soát nào. Cần phải nói thêm là các hoang tưởng, điên sảng không phải chỉ là dấu hiệu bệnh lý, mà còn là một nỗ lực của người bệnh để tự giải thoát ra khỏi căn bệnh (tuy nhiên, điều đáng buồn là nó không phải lúc nào cũng tương thích với các hình tượng xã hội). Triết lý trị liệu ở đây có thể thấy rõ là giúp cho thân chủ nắm bắt những yếu tố mang tính biểu tượng để kiểm soát lại cái Thực. Lacan nghĩ là không nên loại bỏ các hoang tưởng, mà ngược lại phải đồng hành cùng thân chủ để tìm ra một cái ý nghĩa cho nó, giúp cho những hoang tưởng đó, từ chỗ khó hiểu, bí ẩn, trở nên có thể chia sẻ được. Điều quan trọng là tâm lý gia không bị cuốn trôi theo hay chìm ngập vào hoang tưởng của thân chủ.

-          Nơi Ảo và Thực giao nhau, Lacan gọi đó là Khoái lạc Khác (jouissance Autre - JA): nằm song song và kèm theo Khoái lạc phallic (Jp). Nó hoàn toàn nằm bên ngoài Biểu tượng, nghĩa là nó không được sắp xếp, tổ chức, hệ thống hóa, không thể diễn đạt hoàn toàn bằng bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào. Đây là mội Khoái lạc vô biên, không giới hạn; giới hạn duy nhất có thể đề cập đến là giới hạn của cơ thể con người. Khi vòng Biểu tượng tách ra khỏi bộ 3, nó đè bẹp Khoái lạc Khác, hai vòng Thực và Ảo trở nên tự do, ta có thể nói đến tính lệch lạc với triết lý sau : đưa một trật tự biểu tượng (bất kỳ nào đó) giẫm đạp lên khoái lạc của người khác (nhất là người mẹ thuở ấu thơ). Người “lệch lạc” chối bỏ sự thiếu hụt nơi người khác, cho rằng người đó hoàn mỹ, chẳng thiếu hụt thứ gì. Làm như vậy, chính người “lệch lạc” sẽ nhận được cho mình khoái cảm hoàn thiện từ trong mối quan hệ với một người khác được cho là hoàn thiện. Định hướng trị liệu khá rõ ràng : phục dựng nơi người đó ý tưởng rằng người khác cũng có những thiếu hụt, và trong chính sự thiếu hụt đó sẽ làm nảy sinh những khoái cảm tuy không hoàn thiện nhưng nó thúc đẩy con người ta tìm kiếm.

 ***

  1. Bằng cách nào ta nhận biết các cấu trúc nhân cách

 Việc nhận biết cấu trúc nhân cách mang một ý nghĩa lớn cho lâm sàng, giúp nhà trị liệu tìm ra được đường hướng trị liệu đúng đắn phù hợp với những gì thân chủ mang theo từ quá khứ đến tương lai.

Ngôn ngữ chính là công cụ chuyên nhất giúp ta xác định cấu trúc nhân cách của một thân chủ, vì theo Freud, “ngôn ngữ chính là tâm trí”. Là một nhà lâm sàng theo định hướng phân tâm, ta làm việc trong ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ và cùng với ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ là một phạm trù rất rộng, được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Làm sao và thông qua những cách thức nào để một nhà lâm sàng có thể nhận biết đúng đắn một cấu trúc nhân cách ?

 Các test phóng chiếu với tranh vẽ cụ thể (TAT, CAT, Patte Noire …) hay thông qua lời nói (điền vào câu trống, ngụ ngôn của Duss …) giúp ta có những cái nhìn tổng quan về những xu hướng chính yếu của tâm trí và nhân cách, trong đó nhấn mạnh đến các cơ chế phòng vệ đặc trưng và những thuận lợi, khó khăn mà mỗi thân chủ gặp phải trong quá trình xây dựng bộ máy tâm trí từ thời thơ ấu đến hiện tại.

Test phóng chiếu trừu tượng theo kiểu Rorschach mang cho ta thông tin hữu ích về cấu trúc nhân cách của thân chủ, tất nhiên khi được sử dụng phối hợp với những công cụ khác.

 Tuy nhiên trong lâm sàng, nhất là trong những buổi trị liệu phân tâm cổ điển, test phóng chiếu tương đối ít dùng. Thay vào đó, nhà lâm sàng phân tâm lắng tai nghe, quan sát và ghi nhận những hành vi, hành động của thân chủ trong suốt chiều dài của các buổi gặp gỡ để đắn đo và xác định cấu trúc nhân cách. Sau đây là một bảng tóm tắt ngắn gọn (và không đầy đủ) của những dấu hiệu thường được quan tâm nhất nhằm xác định cấu trúc nhân cách :

 

Mục

Nhiễu tâm

Loạn tâm

Ranh giới/Lệch lạc

Giấc mơ

Thường xuyên có những giấc mơ khác nhau hay lặp đi lặp lại, được kể ra một khi công việc trị liệu tiến hành được một thời gian.

Rất hiếm. Không mơ trong suốt quá trình trị liệu, hoặc cho là có những giấc mơ nhưng không nhớ được nội dung.

Tùy vào nhân cách cụ thể mà gần giống với nhiễu hay loạn tâm hơn.

Diễn ngôn

Có tính biểu tượng, có những lỗi, va vấp, nghi hoặc, chuỗi năng nghĩa không gián đoạn mà được liên tưởng tiếp diễn. Mối tương quan biểu nghĩa – năng nghĩa chặt chẽ.

Thường là những đề tài thường nhật, mang tính miêu tả hoặc cao siêu, thần bí. Nói chỉ để nói, lắp đầy khoảng trống vì nó gây lo hãi dữ dội. Sáng tạo những từ vựng mới. Ít có những nghi hoặc. Nếu có nhầm lẫn thì mang màu sắc vay mượn. Chuỗi năng nghĩa gián đoạn.

Chuỗi biểu năng có thể được tiếp diễn. Mối liên hệ giữa biểu nghĩa và năng nghĩa tương đối nhạy cảm. Khả năng biểu tượng tốt nhưng lời nói có chức năng như một tấm màn che đậy một cái gì đó sâu bên trong.

Về triệu chứng

Thân chủ nói, than phiền về triệu chứng, về nỗi ám sợ, về những nghi hoặc hay khía cạnh tình dục. Thể hiện sự đau khổ, nỗi đau khi mang triệu chứng.

Cũng nói về triệu chứng nhưng không than phiền gì, cho rằng nó không phiền hà gì đến cuộc sống hay con người.

Biết là điều đó đi trái với hình tượng, đạo đức xã hội nhưng vẫn tiếp tục với cơ chế nội tại.

Cơ chế phòng vệ chủ đạo

Dồn nén, nghi hoặc, tự trách móc và cảm thấy có tội, nuối tiếc, phủ nhận

Phóng chiếu, đồng nhất hóa phóng chiếu, chối bỏ

Chối bỏ, Tách chia

Huyễn tưởng

Thường gây ra cảm giác có tội, sự dày vò nội tâm, đặt câu hỏi … vì thường có liên quan đến khía cạnh tính dục

Gần với những hoang tưởng bị giết, bị ám hại … được bộc lộ một cách dữ dội, khó kiểm soát

Gần với 1 “cảnh tượng” hơn là 1 “huyễn tưởng”, trong đó không có sự phiền hà khi phải bộc lộ ra, thậm chí có một sự khoái lạc khi phát ngôn về những vấn đề nhạy cảm

Vị trí của tưởng tượng

Nghiêng về khiá cạnh huyễn tưởng, về những chủ đề như sự toàn năng, sự lo lắng đối với 1 số vấn đề

Tưởng tượng hoặc bị đóng mác trong cái Thực, hoặc xuất hiện dưới dạng ảo giác hay hoang tưởng

Tùy vào nhân cách cụ thể

Chuyển cảm

Chuyển cảm Ảo và Biểu tượng

Chuyển cảm Thực

Cả 3

 

                               

 

 

 

 

 

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.