Hội thảo quốc tế “Đạo đức nghề nghiệp và mô hình dịch vụ trong thực hành tâm lý”

Ngày 27/10/2018


Khoa Tâm Lý trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã tổ chức hội thảo quốc tế về chủ để “Đạo đức nghề nghiệp và mô hình dịch vụ trong thực hành tâm lý” với những báo cáo mang tính chuyên môn cao từ các Giáo sư có tiếng trong và ngoài nước.

Mở đầu hội thảo, TS. Lê Hữu Phước, Phó Hiệu trưởng nhà trường phát biểu chào mừng. Phiên toàn thể được mở đầu bằng bài báo cáo với chủ đề “Ứng dụng thực hành dựa trên thực chứng trong tâm lý học” do TS. Nguyễn Bảo Uyên thực hiện, trong đó TS. Uyên nhấn mạnh về 6 bước trong thực hành tâm lý như sau:

  • - Đặt và phát triển câu hỏi
  • - Tìm kiếm chứng cứ khoa học
  • - Phân tích bằng chứng
  • - Chứng cứ khoa học và bối cảnh thân chủ
  • - Cam kêt hực hiện
  • - Theo dõi và đánh giá kết quả

    Và Định hình trường hợp (case formulation) cần chú ý đến “The 5Ps”:

  • - Vấn đề được trình bày
  • - Các yếu tố bắt nguồn
  • - Các yếu tố kích hoạt
  • - Các yếu tố duy trì
  • - Các yếu tố hỗ trợ

    Bài tiếp theo, GS. TS Cynthia Bilodeau báo cáo về chuyên đề “Thúc đẩy sử dụng an toàn và hiệu quả cái tôi trong thực hành tâm lý? Xem xét các tiến trình của tranh cãi đạo đức”. Với bài báo cáo này, GS. Cynthia đưa ra 3 yếu tố giúp những người làm tâm lý chú ý về những hành vi, ý nghĩ liên quan đến sự trượt dốc đạo đức như:

  • - Bao biện cho hành vi phi đạo đức, bóp méo bản chất của hành vi.
  • - Chối bỏ trách nhiệm bản than về hậu quả về hành vi của mình.
  • - Nghĩ xấu người khác, phi nhân tính hoá người khác để đổ lỗi cho họ

Những hành vi phi đạo đức thường bắt đầu bằng việc cho phép mình có những ngoại lệ hoặc trong đầu có những mặc cả, vì vậy, bài báo cáo đã gởi đến hội thảo thông điệp “Điều chỉnh đạo đức thì phải điều chỉnh tư duy của mỗi người”.

Song song với chủ đề trên, GS. TS Christian R. Bellehumeur tiếp tục đưa ra một báo cáo khác cũng về đạo đức nghề nghiệp, mang tên “Thúc đẩy sử dụng an toàn và hiệu quả cái tôi trong thực hành tâm lý? Xem xét các tiến trình của tranh cãi đạo đức”, trong đó, tác giả đưa ra một điều rất đáng quan tâm là: Là người thực hành tâm lý lâm sàng, chúng ta cần thường xuyên chất vấn mình rằng: Mục tiêu của điều trị này là gì? Vai trò, trách nhiệm của tôi ở đây là gì? Nó có ý nghĩa gì với bản thân tôi và thân chủ? Tôi có đang lắng nghe những nghi ngờ, trực giác của mình không? Những câu hỏi này sẽ giúp những nhà thực hành tâm lý suy ngẫm tốt về vấn đề mình đang làm liên quan đến đạo đức.

Bài báo cáo “Mối liên hệ giữa chăm sóc và kiểm soát tâm lý của cha mẹ với ý thức giá trị bản thân của sinh viên đại học tại TP Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả: TS Trì Thị Minh Thuý, TS Nguyễn Thị Thanh Tú, Ths Lê Hoàng Thế Huy, Ths Lê Ngọc Bảo Trâm, Nguyễn Tấn Đạt, đề cập đến vấn đề liên quan đến kỹ năng làm cha mẹ, được nhiều sự quan tâm của người tham dự, bởi lẽ những điều liên quan đến kỹ năng làm cha mẹ luôn là điều mà mọi người quan tâm. Bài báo cáo có đề cập đến vấn đề: Kiểm soát hành vi là việc làm được cho là tiêu cực ở phụ huynh đối với con em mình, và kiểm soát tâm lý là tích cực, vì vậy, trong mô hình giáo dục, các phụ huynh cần kiểm soát hành vi hơn là kiểm soát tâm lý.

Ngoài các bài báo cáo về các vấn đề tâm lý, đạo đức trong nghề, thì bài “Stress nơi làm việc của nhân viên y tế”  do nhóm tác giả là: TS. Trần Hồng Quân, BS. Giang Ngọc Thụy Vy,  ThS. Nguyễn Thị Nam Phương, ThS. Trần Mai Phương thực hiện, và đây là sản phẩm của 2 tháng học tập của nhóm tại Úc. Nhóm tác giả đưa ra những thực trạng về nhân viên y tế có 53% bs tại úc nghỉ ốm khi làm việc, và tỉ lệ tự sát vì căng thẳng trong công việc tăng cao.

Bài báo đưa ra một số mô hình dịch vụ hỗ trợ cho nhân viên y tế, như: (1). Mô hình EAP:  Bệnh viện liên kết với các công ty để nhân viên y tế được chăm sóc sức khoẻ tâm thần, trong đó chi phí sẽ do bệnh viện trả; (2). Mô hình dịch vụ AMA (Australia Medical Association) là mô hình không chỉ có sự hỗ trợ của các chuyên gia, mà còn có sự hỗ trợ của các đồng nghiệp có chuyên môn trong lĩnh vực phù hợp với dịch vụ tình nguyện làm, và kinh phí sẽ do hiệp hội trả. Mô hình này có ưu điểm là những đồng nghiệp tình nguyện có cơ hội học hỏi chuyên môn và trải nghiệm xã hội, tuy nhiên, người sử dụng dịch vụ e ngại về việc bảo mật thông tin; (3). Mô hình VCHP: dành cho sinh viên Y đang học, 70% hiệp hội, 30% là của chính phủ. Bài báo cáo này được sự hưởng ứng của đại diện các doanh nghiệp có mặt trong hội thảo.

Một chủ đề nữa cũng có sức hút cao trong hội thảo là bài báo cáo “Tâm lý và tâm linh – một mô hình tích hợp trong thực hành tâm lý ở Việt Nam” của nhóm tác giả ThS. Phạm Thị Bích Thuỳ và ThS. Phạm Thị Kim Ngọc, đã đưa ra một cái nhìn tuy không mới, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong công tác tham vấn tâm lý. Bài báo cáo đặt ra nhiều những ràng buộc vô hình về tâm linh, khiến thân chủ giam mình trong những đau khổ hiện tại. Bài báo cáo truyền tải đến nhiều thông điệp, trong đó, nhà tham vấn-trị liệu cần phải có kiến thức về đa văn hoá, tâm linh để có thể làm việc tốt hơn với các thân chủ đến từ nhiều vùng miền trong quốc gia họ đang sống.

Nối tiếp buổi tiền hội thảo ngày 26/10, nhóm tác giả TS. Nguyễn Thị Thanh Tú và  Nguyễn Thị Thuý Kiều tiếp tục đưa ra một chuyên đề trong buổi hội thảo: Lạm dụng tình dục trẻ em và liệu pháp nghệ thuật: Những tình huống khó xử về đạo đức: một báo cáo nghiên cứu trường hợp. Trị liệu nghệ thuật có thể giúp thân chủ bày tỏ những đau khổ nội tâm không bày tỏ được bằng lời, gọi tên được những cảm xúc tiêu cực, tìm được ý nghĩa mới, vượt ra khỏi khung nạn nhân. Bài báo cáo khép lại bằng một thông điệp gợi mở nhiều suy ngẫm cho người tham dự: “Sự chữa lành ở trẻ khởi đi từ niềm tin bởi nhà trị liệu gây dựng trong lòng các em”.

Bên cạnh những chuyên đề về Đạo đức nghề nghiệp, hội thảo còn đề cập đến chủ đề về xây dựng mô hình dịch vụ trong thực hành tâm lý. Có nhiều bài viết gởi về, như Mô hình can thiệp cho trẻ Tự kỷ, mô hình tập huấn phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh, mô hình tham vấn học đường… Trong đó, nổi bật là bài báo cáo của ThS. Phạm Thị Bích Phượng với chủ đề “Kinh nghiệm mười năm xây dựng phòng tâm lý học đường trường THPT Marie Curie thành phố Hồ Chí Minh”. Với bài báo cáo này, tác giả thể hiện sự tâm huyết của mình từ những ngày đầu mầy mò gầy dựng mô hình tham vấn học đường cho một trường có tiếng tại TP.HCM, với rất nhiều công sức, nhiều sự ủng hộ và cũng không tránh được những dèm pha, cản trở. Và đây cũng là những bài học kinh nghiệm trong mô hình tham vấn tâm lý tại trường học – một mô hình đã và vẫn đang được sự quan tâm của Bộ giáo dục Việt Nam cũng như thực tế xã hội.

Buổi hội thảo khép lại vào buổi xế chiều, đọng lại trong lòng mỗi người những suy ngẫm, những kiến thức về đạo đức nghề nghiệp - một điều không mới nhưng là điều quan trọng nhất trong nghề tâm lý, và những mô hình can thiệp tâm lý hiện có ở Việt Nam. Khoa Tâm Lý trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn chân thành cảm ơn sự quan tâm của các giáo sư, các thầy cô, các đồng nghiệp, các doanh nghiệp, các sinh viên đã đến tham gia và góp ý xây dựng.


 Văn nghệ chào mừng

TS. Lê Hữu Phước, Phó Hiệu trưởng nhà trường phát biểu 

GS. TS Cynthia Bilodeau báo cáo chuyên đề 


Cô Nguyễn Thị Vân và đội tiếp tân 


 Giải lao


Hai MC của hội thảo

Chụp hình lưu niệm tiểu ban 1

Các báo cáo viên trong hội thảo nhận chứng nhận

GS. TS Christian R. Bellehumeur tặng quà lưu niệm cho Khoa Tâm lý học


Chụp ảnh lưu niệm khi kết thúc hội thảo

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.